Hậu Giang kỳ truyện - Chương 5.1
Hừng sáng, mặt trời còn chưa ló dạng, mà bà con ở xứ Tỉnh Hậu Giang đã lục đục thức dậy, lom khom nấu nồi cơm sớm để chuẩn bị ra rẫy. Ở đất này, sống nhờ cái nghề trồng mía là chính, ai khá khá thì có miếng đất trồng bán mối cho xí nghiệp đường ở tuốt tận ngoài Phường Bảy. Nhờ có cái xí nghiệp đó mà cũng đỡ lắm, người thì xin vô làm công nhân, người thì trồng mía cung cấp, thành ra quanh năm ai nấy cũng có cái để bươn chải sống qua ngày.
Mà cây mía coi vậy chớ trồng cực muốn chết. Bữa nào mà gió bấc hay gió chướng kéo qua mạnh cái là bụng dạ ai nấy cũng đánh lô tô. Mía mà đổ một cái thì coi như tháng đó ôm gối mà rầu. Mới đó mà gần cuối năm rồi, vậy mà trời đất ổng hổng để yên, mưa gió gì đâu mà dầm dề, trút một lượt nghe muốn rụng tim. Mía, lúa gì cũng tiêu tán, sập tràn lan, đổ theo phong trào, nhìn thấy mà xót xa dữ lắm.
Người ta đi ngang mấy cánh đồng mía nằm ngổn ngang, lá ngả quấn nhau, gốc trốc lên, bụi đất còn ướt nhẹp, mà đứng chết trân không biết phải làm gì. Có ông kia đứng bên lề, lắc đầu tặc lưỡi:
– Trời đất ơi, mưa gì mà như trút, sập ruộng trôi nhà kiểu này, rồi bà con mình sống làm sao nổi?
Bà Chín đứng kế bên, hai tay áo bà ba đã ướt sũng, giọng rầu rầu:
– Mấy công mía nhà tui cũng vậy hà. Mạnh cây nào cây nấy gãy ngang bụp bụp, nhìn mà đứt ruột như ai xé từng khúc gan khúc ruột mình vậy đó chú à…
Cứ vậy đó mà người này tặc lưỡi, người kia thở dài thườn thượt. Than thì cũng chỉ để xả bớt nỗi lòng, chớ ruộng sập, mía gãy rồi, biết làm gì hơn? Thôi thì ráng bươn chải, hy vọng vụ sau gỡ gạc được chút đỉnh, chớ giờ thì coi như xác định ăn cháo cát, cạp đất qua ngày rồi chứ còn cái gì nữa!
Bà con bắt đầu nhà ai về, mỗi người một nỗi, mặt ai cũng buồn xo như mất của. Chợt đâu đó giữa ruộng vang lên một tiếng la thất thanh, nghe muốn giật mình:
– Bà con ơi! Hình như có người xỉu dưới ruộng kìa!
Nghe vậy, mấy người còn đứng đó liền ù chạy tới. Dòm xuống thì thấy rõ ràng một thằng thanh niên nằm sõng soài giữa đám ruộng bùn lầy, áo quần ướt sũng, mặt mày tái xanh, không biết còn thở không. Giờ này rồi còn suy nghĩ gì nữa, người thì lội xuống kéo, người thì đứng trên bờ đưa tay phụ, ráng để mà lôi nó lên bờ. Tới chừng đưa được nó lên tới bờ, một ông chú cúi xuống sờ trán thằng nhỏ, đoạn nói như ra lệnh:
– Nó bịnh rồi! lạnh tay lạnh chân vầy là gió độc vô nặng lắm! Để nằm ngoài đây một hồi là bị trúng gió chết luôn đó! Bà con phụ tui khiêng nó về lẹ!
Người đó không ai xa lạ, chính là thầy Tư Dừa, ông thầy thuốc Nam nổi tiếng nhất cái xứ này. Thiệt ra ông không phải tên Dừa. Người ta chỉ nhớ ổng là thứ Tư, mà có một thời bị biến cố gì đó dữ lắm, làm đầu óc ổng bị ảnh hưởng, quên tên tuổi luôn. Ổng sống lặng lẽ, không vợ con, quanh năm chăm mấy bụi thuốc sau hè, mà trồng cây gì cũng chết hết ráo, trừ mấy cây dừa sau nhà là xanh mướt, trái đong đưa. Riết rồi ai cũng gọi là Tư Dừa, kêu quen miệng tới giờ.
Ông thầy này hiền như bụt. Người ta bệnh, nghèo giàu gì cũng không chối. Gặp nhà khốn khó, ổng cân thuốc kỹ từng chút, còn bẻ thêm miếng khô, dúi thêm nắm lá an thần đem về. Còn gặp mấy người giàu mà coi thường tình nghĩa, chỉ biết có tiền bạc, thì xin lỗi à, có cho vàng cũng không đổi được một thang thuốc. Có bận kia, ông nói một mà câu khiến người ta nhớ hoài:
– Người sống mà coi đồng tiền nặng hơn tình nghĩa, thì uống thuốc cũng không hết bệnh đâu nghen!
Thành thử, trong xóm trong làng, ai cũng quý ông, gọi ông là “thầy” chớ không phải vì danh, mà vì đức.
Sau một hồi chật vật, bì bõm lội qua mấy con đường sình lầy, thì hết thảy bà con cuối cùng cũng đưa được người thanh niên lạ mặt kia về tới nhà thầy Tư. Nhìn cái thân người thì thấy ốm nhách, như cây sậy mà bưng lên thì nó nặng muốn trẹo cái xương sống! Đưa tới đây được cũng là một thử thách chứ hổng chơi.
Thầy Tư cảm ơn bà con rồi xua tay nói ai về nhà nấy lo chuyện nhà đi, phần còn lại để thầy lo. Ổng vô trong, lục tủ lấy ra bộ đồ bà ba nam cũ cũ nhưng còn lành lặn, đem ra thay cho người thanh niên kia. Tay run run mà vẫn ráng đỡ từng chút một, đắp mền, chụm củi, sắc thuốc, canh lửa… coi sóc suốt cả buổi trời. Tới chừng thấy người nằm kia bắt đầu đổ mồ hôi nhẹ, thở đều hơn chút thì thầy mới yên tâm mà quay vô lo chuyện nhà.
Sáng hôm sau, ánh nắng ban mai vừa le lói sau tán lá, tiếng gà gáy eo óc vang từ mé sau, hòa cùng tiếng chim ríu rít trong vườn nghe thiệt ấm lòng. Không khí buổi sớm quê nhà cứ rộn ràng mà bình dị đến lạ.
Cậu thanh niên lạ hôm trước giờ cũng từ từ tỉnh lại. Mắt lim dim, người còn uể oải, đầu óc mơ hồ như chưa biết chuyện gì đang xảy ra. Cậu đưa mắt dòm quanh, thấy đây là chỗ nào mà lạ hoắc, ráng gượng ngồi dậy mà miệng lắp bắp: